Một số điểm mới trong Quy định số 21-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Ngày
11/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã ban hành Quy định số 21-QĐ/TW
quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng (thay thế Quy định số
296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm
tra, giám sát, kỷ luật của Đảng).

Một số nội dung của Quy định 21-QĐ/TW
Quy
định số 21-QĐ/TW gồm 7 chương, 35 điều kế thừa cơ bản những nội dung Quy định
296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025, có bổ sung, lược bỏ một số nội dung không còn phù hợp,
bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các quy định mới
của Trung ương, pháp luật của Nhà nước. Một số điểm mới cốt lõi của Quy định
21-QĐ/TW so với Quy định 296-QĐ/TW,
gồm
1.
Nâng cao nguyên tắc công bằng, minh bạch trong kỷ luật
Tại Khoản 5, Điều
2, Quy định 21-QĐ/TW đã làm rõ hơn các nguyên tắc trong công tác kiểm tra, giám
sát và kỷ luật của Đảng. Trong
đó nhấn mạnh nguyên tắc: “Mọi tổ chức
đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, đều phải chịu sự kiểm
tra, giám sát và xử lý kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ”. Quy định
21-QĐ/TW kế thừa Quy định 296-QĐ/TW và tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc
này, đồng thời bổ sung nội dung quan trọng về việc kết hợp chặt chẽ giữa xử lý
kỷ luật gắn với giáo dục, khắc phục khuyết điểm: "Việc xử
lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng
viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt
hơn". Qua đó, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa
tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm với yêu cầu giáo dục, phòng ngừa, nâng cao
nhận thức được khuyết điểm,
vi phạm cho cán bộ, đảng viên; đồng thời nêu cao, trú trọng công
tác phòng ngừa, qua đó nâng cao tính chủ động, tự giác trong rèn luyện, giữ gìn
kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
2. Bổ sung giải thích các thuật ngữ “Nhiệm vụ
chuyên môn được giao”, “Nhiệm vụ cấp ủy giao”, “Nhiệm vụ cấp trên giao”, “Chức vụ trong Đảng”
Tại Khoản 15, Điều 3: Nhiệm vụ chuyên môn
được giao là công việc thực hiện theo chức danh được chỉ định, bổ nhiệm, bầu
cử; theo vị trí việc làm, chức trách, cương vị công tác trong tổ chức, cơ quan,
đơn vị mà đảng viên đó là thành viên.
Tại Khoản 16, Điều 3: Nhiệm vụ cấp ủy giao
là nhiệm vụ do cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy (ở Trung ương là Bộ Chính trị, Ban
Bí thư) phân công cấp ủy viên, đảng viên thực hiện theo quy định.
Tại Khoản 17, Điều 3: Nhiệm vụ cấp trên giao
là nhiệm vụ do cấp trên cử, phân công, giao cho tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên
thực hiện trong hoặc ngoài phạm vi nhiệm vụ chuyên môn.
Tại Khoản 18, Điều 3: Chức vụ trong Đảng bao
gồm chức vụ do tổ chức đảng bầu, chỉ định hoặc bổ nhiệm đối với đảng viên theo
quy định của Đảng (kể cả chức vụ kiêm nhiệm).
Những nội dung này trước đây được nêu trong Hướng dẫn
số 08-HD/TW ngày 10/6/2025 của Ban Bí thư về hướng dẫn thực hiện một số nội
dung trong Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
và trong Quy định số 21-QĐ/TW lần này Trung ương đã nêu cụ thể trong Quy định.
Đây là cơ sở quan trọng nhằm nâng cao tính thống nhất trong nhận
thức và bảo đảm sự chặt chẽ, chính xác trong quá trình xem xét, xử lý vi phạm.
3. Bổ sung một nội dung trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng
Tại Điểm đ, Mục 1.2, Khoản 1, Điều 4 quy định cụ thể trách nhiệm của cấp ủy trong việc “Chỉ đạo thực hiện việc phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với các
cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc
của cấp ủy với các cơ quan liên quan”. Ban hành quy chế phối hợp
giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan công an, quân đội, thanh tra,
kiểm toán nhà nước, viện kiểm sát, tòa án nhân dân cùng cấp và các tổ chức
đảng, cơ quan, đơn vị khác có liên quan (do ban thường vụ cấp ủy quyết định). Điều này này góp phần tăng cường sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa
các cơ quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện, xử
lý vi phạm, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của
Đảng.
4. Bổ sung thẩm
quyền cho Ủy ban Kiểm tra
Tại Khoản 1, Điều 7 về nguyên tắc tổ chức và chế độ làm
việc của uỷ ban kiểm tra các cấp, bổ sung thêm nội dung: Ủy viên uỷ ban kiểm tra khi có quyết định nghỉ công
tác chờ nghỉ hưu, quyết định nghỉ hưu hoặc chuyển vị trí công tác khác, chuyển
công tác sang tổ chức đảng khác không cơ cấu ủy viên uỷ ban kiểm tra, không thực
hiện kiêm nhiệm thì đương nhiên thôi thành viên uỷ ban kiểm tra kể từ khi quyết
định có hiệu lực thi hành; ban thường vụ cấp ủy không phải ban hành quyết định
thôi tham gia thành viên ủy ban kiểm tra (kể cả chức danh chủ nhiệm, phó chủ
nhiệm).
Một thay đổi lớn,
tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát được Quy định bổ sung thẩm quyền cho ủy ban kiểm tra: “Được quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước
trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh
tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục
vụ cho công tác kiểm tra, giám sát" (Điểm e, Mục 1.3, Khoản 3, Điều 7); Sử
dụng các biện pháp ngăn chặn mạnh: "Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám
sát được sử dụng một số biện pháp: Ghi âm, ghi hình; niêm phong hồ sơ, tài liệu;
yêu cầu cơ quan chức năng phong toả tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh
và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật" (Điểm g, Mục 1.3, Khoản
3, Điều 7).
Tại Điểm a, Mục
4.6, Khoản 3, Điều 7 uỷ ban kiểm
tra được bổ sung nhiệm vụ tham mưu giúp cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ
cấp ủy giao: "Thực hiện kiểm tra, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực trong: Công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng và
trong hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
công tác cán bộ; đầu tư công, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; công
tác xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật".
Một
nội dung quan trọng khác được
bổ sung tại Điểm b, Mục 4.6, Khoản 3, Điều 7, đó là: "Trong
quá trình kiểm tra, giám sát nếu phát hiện tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị hoặc
cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì báo cáo, xin ý kiến cấp có thẩm
quyền và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra để thụ lý, xử lý
theo quy định của pháp luật", đây là sự bổ sung quy định nhằm bảo đảm sự
phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra của Đảng và hoạt động của các cơ quan
bảo vệ pháp luật.
Tại Điểm 2.4, Khoản
2, Điều 10 Quy định số 21-QĐ/TW bổ sung thêm thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm
tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên: "Ủy ban Kiểm tra
Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, cấp ủy viên cấp
trên cơ sở trở xuống".
5. Cập nhật nội dung phù hợp với
chuyển đổi số và phương pháp phát hiện vi phạm
Tại Tiết d, Điểm
2.3.1, Mục 2.3, Khoản 2, Điều 4 Quy định 21-QĐ/TW đã bổ sung nội dung kiểm tra
tổ chức đảng trong "Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chuyển đổi
số". Theo Quy định 296-QĐ/TW trước đây chủ yếu chỉ giới hạn ở các
lĩnh vực cải cách hành chính, pháp luật và tư pháp, đến Quy định 21-QĐ/TW lần này đã mở rộng phạm
vi sang chuyển đổi số, phù hợp với yêu cầu phát triển và quản trị hiện đại đất nước theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Bên cạnh đó,
Quy định 21-QĐ/TW đã kịp thời bổ sung thêm
kênh phát hiện vi phạm mới, cho phép
phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm thông qua "Phần mềm giám sát và hệ thống
cơ sở dữ liệu số" (Tiết e, Điểm 3.2.1, Mục 3.2, Khoản 3, Điều 7). Từ đó, góp phần nâng cao
tính chủ động, kịp thời, chính xác trong công tác kiểm tra, giám sát, đồng thời
tăng cường tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong phát hiện, xử lý vi phạm đối với tổ chức đảng và đảng viên.
6. Sửa đổi, bổ
sung nguyên tắc xử
lý kỷ luật và thi hành kỷ luật; hiệu lực quyết định
kỷ luật; đình chỉ sinh hoạt đảng
Tại Khoản 5, Điều 2 bổ sung yêu cầu "Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục,
quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để
khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn". Tại Khoản 7, Điều 8 bổ
sung đối tượng tạm thời chưa xem xét kỷ luật là "đảng viên nam giới (trong
trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng) đang nuôi con dưới
12 tháng tuổi" thì chưa xem xét kỷ luật, quy định thể hiện rõ tính nhân văn trong xem xét, thi hành kỷ luật đảng viên. Đây là điểm mới quan trọng, góp phần
bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng với tính nhân
đạo, phù hợp với thực tiễn.
Tại Khoản 10, Điều
15 về cách
tính thời hạn kỷ luật khi thay đổi
hình thức kỷ luật: Bổ sung quy định
"Trường hợp quyết định thay đổi hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối
với tổ chức đảng, đảng viên (kể cả trường hợp do tổ chức đảng cấp dưới thực hiện
không đúng quy định, do thay đổi hình thức kỷ luật hoặc giải quyết khiếu nại về
hành chính, đoàn thể) thì thời hạn chấp hành kỷ luật được tính từ ngày quyết định
kỷ luật đầu tiên có hiệu lực". Nhưng nếu thay đổi hình thức kỷ luật giải tán (với tổ
chức) hoặc khai trừ (với cá nhân) thì thời hạn tính từ ngày quyết định thay thế
có hiệu lực.
Tại Khoản 2, Điều
27 về
đình chỉ sinh hoạt đảng: Quy định 21-QĐ/TW đã bỏ trường hợp "bị tạm
giam" ra khỏi danh sách các trường hợp đương nhiên phải đình chỉ sinh hoạt
đảng đối với đảng viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng, chỉ còn giữ lại trường hợp khởi tố, truy
tố. Đây là sự điều chỉnh quan trọng, thể hiện cách tiếp cận thận trọng, chặt chẽ
hơn trong việc áp dụng biện pháp đình chỉ, tránh việc áp dụng máy móc khi chưa
có căn cứ pháp lý đủ rõ ràng.
7.
Quy định về tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng được
bổ sung theo hướng rõ hơn, chặt chẽ hơn
Tại Khoản 2, Điều
18 quy định về thời hạn giải quyết tố cáo: "Chậm nhất 60 ngày đối với cấp
tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương trở xuống; 90 ngày đối với cấp
Trung ương, kể từ ngày ký quyết định giải quyết tố cáo đến ngày ban hành thông báo kết
luận giải quyết tố cáo (trừ trường hợp bất khả kháng hoặc đề nghị giám định
chuyên môn, kỹ thuật liên quan đến nội dung tố cáo)". Đồng thời, tại Khoản 1, Điều
18 Quy định số 21-QĐ/TW đã làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhận
tố cáo và yêu cầu "phải phân loại, nắm tình hình đơn tố cáo (người
tố cáo, đối tượng bị tố cáo, nội dung tố cáo)", giải quyết hoặc chuyển đơn
tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn quy định, tránh tình trạng trì
hoãn, không giải quyết.
Tại Khoản 2, Điều
18 đã quy
định rõ các trường hợp không xem xét giải quyết tố cáo theo hướng chặt chẽ và cụ thể hơn:
"trường hợp người tố cáo được mời (2 lần) nhưng không đến làm việc mà
không có lý do chính đáng thì tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo lập
biên bản, không xem xét, giải quyết tố cáo, lưu hồ sơ kết thúc"; tại Khoản 4, Điều
20 yêu cầu kết luận phải phân định rõ, cụ thể mức độ của từng nội dung tố
cáo: "Kết luận giải quyết tố cáo phải nêu rõ đối với từng nội
dung tố cáo: Tố cáo sai; tố cáo không có cơ sở, không đủ căn cứ kết luận; tố
cáo đúng có khuyết điểm; tố cáo đúng có vi phạm".
Tại Khoản 2, 3, 4, 5, 6 Điều 23 quy định đã phân cấp giải
quyết khiếu nại rõ ràng theo hướng xác định cụ thể thẩm quyền của từng cấp:
(1) Ban thường vụ cấp ủy cấp
trên trực tiếp cơ sở là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ
luật khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng, đảng viên do ban thường vụ cấp ủy cơ sở
giải quyết và ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc
Trung ương là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khiển
trách, cảnh cáo tổ chức đảng, đảng viên do ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở
giải quyết.
(2)
Uỷ ban Kiểm tra Trung ương là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với các
hình thức kỷ luật cách chức đảng viên; khiển trách, cảnh cáo do ban thường vụ cấp
uỷ tỉnh, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương quyết định.
(3) Ban Bí thư là cấp giải quyết khiếu
nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khai trừ đảng viên do ban thường vụ cấp
uỷ tỉnh, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương giải quyết; khiển trách, cảnh
cáo tổ chức đảng do cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương trở xuống quyết
định.
(4) Bộ Chính trị là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối
với hình thức kỷ luật khai trừ đảng viên do Uỷ ban Kiểm tra Trung ương quyết định.
(5) Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cấp giải quyết khiếu
nại cuối cùng đối với các hình thức kỷ luật do Ban Bí thư, Bộ Chính trị quyết định.
Ban
Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc định hình “hành
lang pháp lý” và phương thức vận hành công tác kiểm tra, giám sát trong toàn Đảng
cho nhiệm kỳ mới. Những điểm mới, nổi bật của quy định này giúp nâng cao hiệu
quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật, góp phần giữ gìn sự trong sạch,
nâng cao sức chiến đấu của Đảng, qua đó củng cố niềm
tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.